Di độngNhúng SkyDoorFacebookEnglishThuở
xưa, đường bộ còn xa xôi cách trở, đường sông là phương thức đi lại chủ
yếu, ngôi đền nằm bên bờ hữu sông Mã này trở thành điểm dừng chân của
nhiều tao nhân mặc khách trên đường thiên lý. Có lẽ, nhờ thế mà danh
tiếng của ngôi đền càng bay xa thêm với những câu chuyện hư hư thực
thực.
Tương
truyền, có một vị vua khi đi đánh giặc qua đây có nghỉ lại một đêm trên
bến Trường Châu ở khúc sông Mã gần đền (có sách nói là vua Lý Thái
Tông, cũng nguồn nói là vua Hùng Vương đời thứ nhất đi dẹp ngoại xâm).
Trong giấc chiêm bao, vua được một vị thần xưng là Ðồng Cổ báo mộng bày
cách dẹp giặc loạn. Khi vua tỉnh giấc còn nghe vang vọng tiếng chuông
đồng vọng từ ngôi đền dưới chân ba ngọn núi.
Theo
báo mộng của thần, khi ra trận vua cho dùng dùi đồng gõ vào trống đồng,
giặc loạn sợ hãi bỏ chạy. Nhà vua sau đó đã quay lại để tạ ơn thần và
cho tu bổ đền khang trang hơn. Tên đền Ðồng Cổ được dân làng gọi theo
từ đó.
Vua
Lý Thái Tông còn cho rước thần Ðồng Cổ từ Ðan Nê về lập đàn thề trên
đất Thăng Long, lại phong cho thần chức quan "chủ trì việc thề trong cả
nước".
Bởi
vậy, nay ở phường Bưởi (Tây Hồ, Hà Nội) có một ngôi đền cũng mang tên
Ðồng Cổ và cũng thờ thần Ðồng Cổ. Xưa, cứ đến ngày 4/4 hằng năm, nhà
vua và các quan trong triều lại đến đền thề trước thần Ðồng Cổ: "Làm
tôi bất trung, làm con bất hiếu - thần linh tru diệt...". Dân thường
gặp chuyện gì rắc rối cũng dắt díu nhau đến đó mà thề thốt trước thần
Ðồng Cổ.
Sử
sách còn ghi đền Ðồng Cổ ở Ðan Nê xuất hiện từ thời Hùng Vương. Ba ngọn
núi đá vững chãi bao bọc ngôi đền được gọi là Tam Thái Sơn. Trước cửa
đền, bên kia chiếc hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân.
Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn viết năm
1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình của nơi đây, và kể lại
chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy và cúng tiến vào đền. Tấm
kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng
Ðan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền.
Tấm
bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn
(con vua Quang Trung) vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn
Thanh Hóa. Một đêm nọ, ông nghỉ tại xã Ðan Nê, có vào cầu khấn trong
miếu thờ Ðồng Cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy
bên bờ Nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4
thước. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn
sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời
viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ.
Theo
những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề
thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (dân làng gọi một cách dân dã là dãy núi
Ðổng). Quanh đền cây cối sum suê, rậm rạp, có nhiều cây to đến nỗi
"ngẩng đầu nhìn, rơi cả mũ".
Thời
kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí
ngay trong hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi bên phải của đền.
Một
chú bé làng Ðan Nê cho biết, gần đây dân làng vẫn còn tìm được trong
hang nhiều vỏ bom hình dáng như chiếc vỏ chai. Ðến thời kháng chiến
chống Mỹ, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ
kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền.
Khi
quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho
máy bay ném bom san phẳng cả đền Ðồng Cổ. Những di tích nguyên gốc còn
lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng
chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.
Nghinh
môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê),
cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng
vữa), cuốn thành vòm tò vò.
Theo
những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu
vào tầm mắt phong cảnh thật tuyệt vời của dòng sông Mã. Giữa đôi bờ bạt
ngàn những ruộng ngô xanh mướt đang phất cờ, dòng sông mùa khô mang mầu
ngọc bích hiền hòa trôi. Xa xa, phía bên kia sông là dáng hình thành
Nhà Hồ (thuộc huyện Vĩnh Lộc kế bên), ẩn hiện trong sương mù mùa đông
mờ ảo. Dưới chân núi, ngôi đền Ðồng Cổ (được xây lại vào năm 1996, chỉ
gồm một gian hai chái), lọt trong xanh tươi cây lá. Trước đền, hồ Bán
Nguyệt như một mảnh gương nhỏ hắt bóng mây trời.
Nơi đây, thời gian như được cô đặc lại từ lịch sử mấy ngàn năm tồn tại của ngôi đền, rắc lên đó một màn sương những câu chuyện huyền thoại.
Theo Tổng cục Du Lịch
| Nhúng địa điểm này vào website của bạn |

