Lăng
Tự Đức là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất
vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân
Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành
phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi
loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất,
lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng.
Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình, và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
Toàn
cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn, hòa nhập với thiên nhiên.
Không có đường nét thẳng tắp, góc cạnh, mà thay vào đó là sự hài hòa,
uốn lượn như chìm hẳn vào thiên nhiên, dù cho công trình là hoàn toàn
do tay con người kiến tạo. Nhìn chung, tổng thể kiến trúc này đầy trang
trọng và mỹ thuật cao được cấu tạo hài hòa giữa đồi núi nhấp nhô, cây
cỏ tốt tươi, rừng thông xanh biếc, khe hồ nước chảy du dương thành một
khung cảnh êm đềm thơ mộng và hết sức tươi đẹp, phảng phất nét u trầm
thanh nhã như tâm hồn mẫn cảm, yêu thích thiên nhiên và nghệ thuật của
vị vua hiền đức hiếu thảo, được người đời mệnh danh là “ông vua thi sĩ”.
Gần
50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có
chữ Khiêm trong tên gọi. Con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ
Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước
lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng
Hoàng hậu Lệ Thiên Anh.
Qua
khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần là khu điện thờ, nơi trước đây
là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Đầu tiên là Chí Khiêm Đường ở phía
trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh
dẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một
thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Giữa hồ có đảo Tịnh
Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm.
Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm
hoa, làm thơ, đọc sách... Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm
bắt qua hồ dẫn đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa.
Bên
trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây.
Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài
vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm
Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương
Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh
bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức.
Bên
phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng. Đặc
biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem
hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn.
Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện
là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống
cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện
và vườn nuôi nai của vua.
Qua
khỏi khu vực tẩm điện là khu lăng mộ. Ngay sau Bái Đình với hai hàng
tượng quan viên văn võ uy nghi là Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh Hóa
nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung Ký” do chính Tự Đức soạn. Tuy có
đến 103 bà vợ nhưng Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia
này thay cho bia “Thánh đức thần công” trong các lăng khác. Toàn bài
văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương
nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công và nhận tội
của Tự Đức trước lịch sử. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững
như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng
nước mưa để linh hồn vua rửa tội.
Giữa
kiến trúc lăng và thiên nhiên có sự gần gũi, bổ trợ. Ðường nét kiến
trúc thật phóng khoáng, hài hòa cùng thiên nhiên có sẵn, hoặc cải tạo
lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong cảnh. Chính vì thế, Lăng
Tự Đức thật sự là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu
tình.