<wml><card id="XML" title="Thành phố Quy Nhơn"><p><a href='../place/5773?parent=-1&amp;page=-1'>Quay lại</a></p>Điều   kiện tự nhiên, khí hậu         Thành   phố Quy Nhơn nằm cực nam tỉnh Bình Định,   tại tọa độ 13 độ 36 - gt; 13 độ   54 vĩ Bắc, 109 độ 06 - gt; 109 độ 22 kinh   Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành   phố Hồ Chí Minh 690 km về phía Nam và cách thành   phố Pleiku (Tây Nguyên) 176 km. Về khí hậu, Quy Nhơn   có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa   từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ   trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ C. Có diện tích   tự nhiên 216km2 , với dân số 26 vạn, là   thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định,   là đô thị loại II, thành phố anh hùng.         Quy Nhơn có đặc điểm địa hình khá   đa dạng và phong phú (đồi núi, rừng, biển,   sông, đầm, hồ…) hệ sinh thái bao gồm:   rừng nguyên sinh (đèo Cù Mông), hệ động   vật đa loài đầm Thị Nại; có bán đảo   Phương Mai và 1 xã đảo (Cù Lao Xanh).               Sự hình thành và phát triển               Các sử liệu xưa cho biết rằng, Quy Nhơn được hình thành từ rất sớm thuộc      vùng đất đàng trong xứ Thuận Quảng (cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ      Quy Nhơn). Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và tác động của sự      phát triển của nền công nghiệp phương Tây vào thế kỷ 19 làm cho diện mạo Quy      Nhơn thay da đổi thịt. Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập      thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương      mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ.  Sau  Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 3/9/1945 Quy Nhơn được tổ chức theo quy chế thị  xã, lấy tên là thị xã Nguyễn Huệ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Quy  Nhơn là hậu phương của chiến trường khu V và Tây Nguyên.  Trong  cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1954 - 1975, Quy Nhơn nằm dưới ách thống  trị của Mỹ Nguỵ. Năm 1970, Quy Nhơn có nbsp; 2 quận là Nhơn Bình và Nhơn Định, còn  ngoại vi xã Phước Hậu, Phước Hải, Phước Lý được nhập vào Quy Nhơn.  Sau  ngày đất nước thống nhất, tháng 10/1975 hợp nhất hai tỉnh Bình Định và Quảng  Ngãi thành Nghĩa Bình, lấy nbsp; thị xã Quy Nhơn làm tỉnh lỵ. Tháng 7/1986 Hội đồng Bộ  trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn. Năm 1989, tỉnh Bình Định được  tái lập lấy thành phố Quy Nhơn làm tỉnh lỵ. Thành phố Quy Nhơn hiện nay được  công nhận là đô thị loại 2. Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng  và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá  - xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh  tế trọng điểm miền Trung.               Tài nguyên thiên nhiên, khoáng      sản:               Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên: về tài      nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100km, đầm Thị      Nại 50km (trong đó: Quy Nhơn 30km, huyện Tuy Phước      20km), có trên 20.000ha rừng. Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý),      đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và      nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng      đứng sau tỉnh Khánh Hòa). Nguồn nước ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực      sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành      phố.               Cơ sở hạ tầng đô thị:               Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, thành phố Quy Nhơn đã không ngừng      nỗ lực chuyển mình để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước; Quy Nhơn đang      từng bước vươn tới mục tiêu xây dựng một đô thị hiện đại, phát triển; để đạt      được mục tiêu đó, trong nhiều năm qua đã tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng      quan trọng như:               Hệ thống cung cấp điện: toàn thành phố (kể cả dự án cải tạo      lưới điện 17 triệu USD của chương trình SIDA), bảo đảm 100% xã, phường có      điện, 98% số hộ được sử dụng điện từ lưới điện quốc gia (trừ xã đảo Nhơn      Châu phải dùng máy phát điện). Hệ thống đèn chiếu sáng tương đối hoàn chỉnh      có trên 5.000 bộ đèn cao áp (bình quân 1 bộ / 10 hộ dân).           	Hệ thống cấp      nước: Hiện nay công suất 25.000m3/ ngày đêm và đang thực hiện giai đoạn hoàn thiện dự án nâng cấp lên 45.000m3/      ngày đêm.               Về giao thông: cảng Quy Nhơn là một trong số ít cửa khẩu quan      trọng của Việt Nam. Từ hướng Tây thoát ra biển Đông. Thông qua quốc lộ 19-      cảng biển, (quy mô 2,4 triệu tấn / năm (năm 2003), dự kiến 5 triệu tấn / năm      (năm 2010) và tàu trên 3 vạn tấn ra vào thuận lợi). Có nhiều lợi thế về giao      thông đường bộ (quốc lộ 1A, quốc lộ 1D, quốc lộ 19, đường sắt Bắc - Nam)      đường thủy, đường hàng không (sân bay cách trung tâm thành phố 27km). Có      trên 200km đường nội thành.               Thông tin liên lạc: nbsp; hệ thống thông tin liên lạc tương      đối hoàn chỉnh; đặc biệt bưu chính viễn thông có bước phát triển khá tốt,      hiện nay đã có 14 máy điện thoại / 100 người dân; hệ thống truyền hình cáp;      trung tâm bưu chính liên tỉnh phục vụ khu vực miền Trung, trạm không lưu khu      vực phía Nam. Đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu      vực.          - Hiện nay thành phố Quy Nhơn đang phấn đấu xây dựng thành công 2 dự án trọng      điểm là: dự án đường Xuân Diệu (tạo cảnh quan du lịch cho bãi biển Quy Nhơn),      dự án cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội (tạo ra một vùng đất mới ở bán đảo      Phương Mai xây dựng khu kinh tế Nhơn Hội).               Tiềm năng du lịch, danh lam      thắng cảnh:          Với điều kiện khí hậu lý tưởng cùng với 42km chiều dài bờ biển, trước vịnh      Quy Nhơn có nhiều đảo lớn nhỏ, nhiều bãi tắm đẹp, nhiều danh lam thắng cảnh      và di tích lịch sử được xếp hạng; Quy Nhơn trở thành 1 thành phố biển, 1      trung tâm nghỉ mát, tham quan, hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách      đến tham quan, nghỉ dưỡng; ngành du lịch trở thành ngành mũi nhọn của địa      phương.               Nguồn nhân lực:          Nguồn nhân lực của thành phố Quy Nhơn dồi dào; có truyền thống hiếu học, cần      cù lao động, sáng tạo có trên 12 vạn lao động (theo số liệu năm 2002); trong      đó có 90.000 lao động tham gia các ngành các lĩnh vực; trình độ ĐH, trung      học chiếm 10,1%, trình độ CN bậc 3 trở lên chiếm 2,7%; lao động có tay nghề      khá phổ biến ở các ngành xây dựng, khai thác, sửa chữa, gia công, may mặc,      giày da, mộc dân dụng…</card></wml>