|
Trên
cổng Tam Quan vẫn còn rõ tên Hải Châu Chánh Xã bằng chữ Hán. Qua khoảng
sân rộng là một quần thể kiến trúc chính gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ
Tiền Hiền nằm giữa hai nhà thờ tộc thành hình chữ “nhất”. Nhà thờ bên
trái của tộc Nguyễn Văn mới tách ra, còn nhà thờ bên phải gọi là Kinh
An Tự thờ chung 42 bài vị của 42 tộc họ. 42 tộc họ này đều từ thôn Hiếu
Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, theo vua Lê
Thánh Tôn vào nam từ năm Tân Mão (1471). Vua Lê đã lập ra ấp Hàn Giang
(sau là tỉnh Quảng Nam, nay là thành phố Đà Nẵng) và các tộc họ ấy đã
quần tụ lại thành làng Hải Châu (theo tên xã cũ ở Thanh Hóa, bao gồm
phần nội thành Đà Nẵng hiện nay), được triều Nguyễn phong sắc phong
“chánh xã”. Hơn 500 năm qua các tộc họ đầu tiên ấy đã đặt nền móng và
không ngừng đóng góp công sức cho sự hình thành thành phố Đà Nẵng hiện
nay.
![]() |
| Trên
gác chuông đình Hải Châu hiện còn 1 chiếc chuông đồng, thân chuông có
bài minh đắp nổi bằng chữ Hán. Tạm dịch: năm Minh Mạng thứ 5 (Giáp Thân
- 1842) trùng tu chùa. Năm sau (1825) vua ban chỉ sắc tứ cho mang tên
“Chùa Phước Hải”. Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn - 1832) nhằm ngày
tốt, xã Hải Châu Chánh Đồng tạo lập chuông này. Các nhà sử học xác định
Đình Hải Châu là Chùa Phước Hải, nơi Chúa Nguyễn Phúc Chu năm Kỷ Hợi -
1719 đã vào Quảng Nam và nghỉ lại, sau đó dân đã lập bàn thờ ông tại
đây.
Đình làng Hải Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử quốc gia vào ngày 12/7/2001.
Theo vietnamtourism.com
|